NHỮNG ĐIỂM KHÁC BIỆT GIỮA TƯ TƯỞNG ẤN ĐỘ GIÁO VÀ PHẬT GIÁO
Thích Lệ Duyên
CHƯƠNG 1 : GIỚI THIỆU KHÁI LƯỢC VỀ ẤN ĐỘ GIÁO VÀ PHẬT GIÁO
1.1. BỐI CẢNH XÃ HỘI ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI
Ấn độ cổ đại là một bán đảo có diện tích lớn nằm ở miền Nam châu Á. Đông nam và tây nam giáp với Ấn độ dương; Phía bắc là dãy núi Hymalaya và có hai con sông lớn: sông Ấn và sông Hằng. Từ hai con sông này đã hình thành nên đồng bằng phù sa thuận lợi cho việc trồng trọt, đồng thời cũng là nơi sản sinh ra nền văn hóa cổ xưa và rực rỡ nhất châu Á. Phía nam Ấn độ là cao nguyên Decan, là vùng đất nghèo nàn, cằn cõi, khô hạn, quanh năm nắng nóng.
Do vậy, khí hậu giữa các miền của Ấn độ không đồng nhất với nhau, có nơi quanh năm tuyết phủ, có nơi lại khô hạn, nắng nóng.
Thời cổ đại, Ấn độ có nhiều dân tộc sinh sống nên có nhiều ngôn ngữ khác nhau. Đông nhất và có vị trí quan trọng là tộc người Dravidiens ở phía nam và người Aryan sống ở phía bắc. Trong quá trình phát triển, có những quốc gia và các dân tộc khác bên ngoài xâm nhập vào Ấn độ rồi định cư như người Ba tư, Hi lạp….Những dân tộc này sống hòa lẫn với nhau xây dựng nên một nền văn minh vĩ đại cho nhân loại, thể hiện qua các mặt sau:
Về kinh tế
Nông nghiệp lúa nước là ngành kinh tế chủ yếu của người Ấn độ cổ đại. Họ biết đắp đê dẫn nước vào ruộng, biết dùng trâu cày và các công cụ bằng đồng….Ngoài ra ngành chăn nuôi cũng phát triển mạnh, các súc vật được nuôi thành từng đàn, từng bầy như ngựa, dê, lợn, gia cầm…..Vì nhu cầu cuộc sống nên nghề làm đồ gốm, đồ đồng cũng phát triển; từ đây quan hệ buôn bán, trao đổi xuất hiện ở hình thức sơ khai. Theo đà phát triển của xã hội, nghề thủ công nghiệp đã xuất hiện và gặt hái những thành tựu đáng kể “những thợ thủ công nghiệp đã tụ tập thành những tổ chức đặc biệt kiểu như phường hội. Những nghề thủ công nghiệp phát đạt nhất thời đó là nghề dệt bông, đay, tơ lụa, nghề làm đồ gốm và đồ trang sức”. [10, 25]
Về chính trị
Vào khoảng 1500 đến 1000 năm trước CN, tộc người Aryan đã di cư vào Ấn độ. Lúc đầu họ sinh sống bằng nghề chăn nuôi, du mục. Khi tấn công và chiếm đoạt được nhiều vùng đồng bằng tươi tốt của người Dravidien, họ đã học tập được kỹ thuật canh tác của người dân bản xứ và thay đổi lối sống từ chăn nuôi du mục sang định cư làm ruộng. Về sau người Aryan tổ chức ra các công xã nông thôn và phân chia ruộng đất cho các thành viên trong công xã. Đứng đầu công xã là xã trưởng và hội đồng bô lão của công xã. Họ vừa là người quản lý công xã, vừa là người đại diện cho công xã giao thiệp với các cấp trên (tù trưởng, sau khi thành lập quốc gia là vua).
Khoảng 1000 đến 600 năm trước CN, thế lực người Aryan bành trướng dẫn đến kinh tế phát triển nhanh chóng, từ đây sự phân hóa giai cấp gay gắt tạo điều kiện hình thành các quốc gia. Như ở miền bắc Ấn độ, thế kỷ thứ VI trước CN có đến mười sáu quốc gia, hùng mạnh nhất là quốc gia Magadha ở hạ lưu sông Hằng.
Về sau, vương triều Magadha bị lật đổ, thành lập nên triều đại Maurya (312 trCN), Asoka đã thống nhất và kiểm soát toàn bộ Ấn độ. Sau khi Asoka mất vương triều này suy sụp và dẫn đến diệt vong vào năm 28 trCN. Ấn độ lại bị ngoại bang xâm lược, mãi đến thế kỷ IV thì mới mới được thống nhất dưới triều Gupta và triều đại Harsa.
Về văn hóa
Về văn hóa, Ấn độ cổ đại đã thành tựu được một số lãnh vực sau:
- Ngôn ngữ và chữ viết: khi người Aryan xâm nhập vào Ấn độ họ đã dùng tiếng nói của mình để sáng tác ra bộ Kinh Veda (ngôn ngữ Veda). Đến thế kỷ thứ IV trước công nguyên Panini đã sáng tác ra ngôn ngữ Sanskrit (ngôn ngữ này chỉ sử dụng trong tầng lớp quý tộc). Dân chúng mỗi vùng có một thứ tiếng khác nhau. Do vậy ở Ấn độ có rất nhiều ngôn ngữ bình dân như Pali (ngôn ngữ của Phật Giáo), tiếng Tamin của người Dravidien ở miền Nam Ấn.
- Thiên văn học: xuất hiện từ thời Veda, họ đã quy định được một tháng gồm ba mươi ngày, một năm gồm có mười hai tháng…. và phỏng đoán được trái đất hình cầu và quay quanh trục của nó. Cuối thế kỷ thứ V trước CN, Thiên văn học đã giải thích được hiện tượng nhật thực, nguyệt thực.
- Toán học: người Ấn độ đã phát hiện ra chữ số thập phân và hình tượng các chữ số. Đặc biệt là họ đã tính được số Pi khá chính xác, biết được định lý Pitago, biết giải phương trình bậc hai, bậc ba….
- Y học: Người Ấn đã biết chữa bệnh bằng cách dùng các loại cây và các phương pháp trị bệnh đơn giản. Về sau y học ngày càng phát triển, họ đã biết điều trị bệnh lâm sàng một cách thuần thục và chính xác….
- Kiến trúc: nổi bật nhất là lối kiến trúc xây dựng chùa chiền, đền tháp.
- Văn học: dân Ấn đã sáng tác ra các áng văn chương bất hủ như bộ Veda và các bộ sử thi: Mahabharata, Ramayana…..đây là niềm tự hào của nền văn hóa Ấn độ.
1.2. ẤN ĐỘ GIÁO
1.2.1. Quá trình hình thành
Hầu hết các nhà nghiên cứu cho rằng Ấn độ giáo được hình thành và hoàn chỉnh qua các giai đoạn sau :
1.2.1.1. Vệ Đà giáo hay Phệ Đà Giáo
Đây là tôn giáo được hình thành sớm nhất ở Ấn độ, cũng là giai đoạn đầu tiên của Ấn Độ giáo. Nó ra đời dựa trên triết lý thánh kinh Vệ Đà.
Người ta thường gọi tôn giáo này là đa thần giáo, bởi họ thờ cúng rất nhiều các vị thần như: Indra (thần sấm), surya (thần mặt trời), agni (thần lửa), apas (thần nước), rudra (thần bảo tố), vayu (thần gió)…Có thể nói, hầu hết các hiện tượng thiên nhiên đều có một vị thần trông coi, cai quản. Việc thờ cúng các vị thần linh, đối với dân tộc Ấn độ cổ đại, không phải là mê tín mà do lòng tin tưởng chân thành. Họ cho rằng cúng bái thần linh là lẽ sống, là nhu cầu thiết yếu, cần thiết của con người. Do đó, “Bất cứ việc gì, đối với bản thân, gia đình hay với bộ tộc, hơi động một tí là cúng bái trước đã. Thắng trận, thu được chiến lợi phẩm dù ít hay nhiều, làm lễ cưới vợ, sinh được con cái, mua may bán đắt, gia súc không bệnh tật và sinh đẻ nhiều, mưa nắng điều hòa, mùa màng tươi tốt, trong nhà an vui khoẻ mạnh….nhất nhất đều cúng tế trước để tạ ơn hay kêu cầu rồi sau đó có làm gì thì làm. Hoặc giả là làm điều gì không phải mà ăn năn, sám hối, biết mình phạm tội nên cầu xin thần linh tha thứ đừng giáng tai họa trừng phạt đều đến trước bệ thờ kêu cầu, khấn vái, rồi lựa những bài thánh tán ca xưng tụng công đức từ bi của vị thần mình cầu xin để ca hát”. [15, 31-32]
Qua đây chúng ta thấy được rằng, các vị thần linh có nhiệm vụ chở che và hộ trì mọi người, chuyển họa thành phúc…Do đó, người Ấn cổ đại bao giờ cũng đặt trọn niềm tin của mình vào các vị thần linh.
1.2.1.2. Bà La Môn giáo
Đến những thế kỷ đầu của thiên niên kỷ thứ nhất trước CN, do xã hội phát triển dẫn đến sự bất bình đẳng về giai cấp ngày càng sâu sắc; và dựa trên nền tảng Vệ đà, cũng như các hình thức dân gian… đã tập hợp thành một tôn giáo mới gọi là Bà La Môn. Đây cũng là giai đoạn chuyển bị thứ hai của quá trình hình thành Ấn độả giáo sau này.
Lúc đầu, Bà La Môn giáo phát triển rất mạnh mẽ và có ảnh hưởng rất sâu sắc đối với xã hội Ấn độ cổ đại. Nếu như Vệ đà giáo thờ cúng rất nhiều thần linh thì Bà La Môn giáo chỉ tập trung tôn thờ ba vị thờ chính yếu như sau:Brahma (Phạm thiên hay Đại Phạm Thiên),Visnu (Tì nữu), Shiva (Thấp bà thiên). Ngoài ra Bà La Môn giáo còn thờ các vị thần khác như thần Agni, thần Indra, thần surya…..và họ cũng sùng bái nhiều loại động vật như voi, khỉ và nhất là bò….
Bà la môn cũng đã góp công thiết lập và duy trì chế độ giai cấp xã hội. Do vậy, xã hội Ấn độ thời bấy giờ được chia ra làm bốn giai cấp:Giai cấp Brahmin (Bà la Môn), giai cấp Kshatriya (Sát đế lợi), giai cấp Vaisya (Vệ xá), giai cấp Sudra (Thủ đà la). Ngoài các giai cấp trên còn có một giai cấp nữa gọi là Paria, là những người nô lệ, cùng khổ.
Để củng cố cũng như bảo vệ hệ thống giai cấp trên, người Aryan còn tạo ra một bộ luật Manu-đây là bộ luật nghiêm khắc và có rất nhiều điểm cực đoan. Nói về các giai cấp, luật Manu viết: “Vì sự phồn vinh của cả thế giới, từ mồm, tay, đùi và bàn chân của mình (Brahma) đã tạo ra Brahmin, Kshatriya, Vaisya, Sudra” hay : “Do sinh ra từ bộ phận cao quý nhất của thân thể Brahma, do sinh sớm nhất, do hiểu biết Veda, Bà la môn có quyền là chúa tể của tất cả các tạo vật ấy” [20, 88]. Trong bộ luật này cũng khẳng định: “Bà la môn mười tuổi và vua một trăm tuổi nên được coi là cha con nhưng trong ấy cha là Bà la môn”. [20, 88]
Vào thời kỳ này có đến sáu phái triết học: Sankhya (Số luận), Yoga (Du già), Vaisesika (Thắng luận), Nyaya (Chánh lý), Mimansa (Di man tát) và Vedanta (Phệ đàn đà). Các phái triết học này được xem thuộc hệ thống của Bà la môn giáo.
Qua đây chúng ta thấy được rằng chế độ giai cấp ở Ấn độ thời bấy giờ thật là nặng nề, khắc khe; nó buộc con người phải sống đúng thân phận của mình và phải tuân thủ theo bộ luật Manu và những gì đạo Bà la môn quy định.
Bà la môn phát triển rộng rãi ở Ấn độ nhưng khi Phật giáo xuất hiện thì bị suy tàn trong một thời gian dài.
1.2.1.3. Ấn Độ Giáo
Sau một thời gian dài suy vi, đến thế kỷ VII Bà la môn dần dần được chấn hưng trở lại. Sau đó họ bổ sung thêm nhiều vấn đề mới như về đối tượng sùng bái, về kinh điển, về nghi thức tế tự…. Về đối tượng sùng bái, họ tập trung và đề cao ba vị thần : Brahma, shiva và visnu; về kinh điển họ tiến hành biên soạn lại kinh điển như bộ Brahmana (Phạm thư)- bộ này nhầm chú giải và thuyết minh những tinh hoa của Veda. Cũng từ đây các bộ lớn khác như Aranyaka (Lâm trung thư), Upanishad (Áo nghĩa thư) cũng được biên soạn. Thời kỳ này người ta gọi là Ấn độ giáo (hay Bà la môn canh tân). So với Bà la môn, thánh điển Ấn độ giáo có phần khác hơn nhưng nền tảng chung thì vẫn là căn cứ vào bộ Veda và chế độ giai cấp nặng nề, khắt khe của Bà la môn giáo gần như được giữ nguyên.
Nói chung: Ấn độ giáo là một tôn giáo đa thần. Lúc đầu họ thờ cúng rất nhiều vị thần linh, về sau được hệ thống hóa lại chỉ còn có ba vị thần chủ yếu mà thôi. Các bộ thánh điển của tôn giáo này có ảnh hưởng rất lớn đối với đời sống văn hoá xã hội cũng như các tôn giáo được khai sinh sau đó. Điểm đặc biệt của Ấn độ giáo là không có một vị giáo chủ nào sáng lập rõ cả. Sự duy trì và truyền bá của tôn giáo này hoàn toàn phụ thuộc vào các giáo sĩ mà thôi. Có một điều chúng ta không thể phủ nhận, dù Ấn độ giáo không được truyền bá rộng rãi như Phật giáo nhưng ở tại Ấn độ nó có ảnh hưởng rất lớn. Theo số liệu thống kê của các nhà nghiên cứu vào năm 1991 thì ở Ấn độ có tới 83% dân số là tín đồ của Ấn giáo, trong khi đó tín đồ Phật giáo chỉ chiếm 0.76% mà thôi.
1.2.2. Kinh điển của Ấn Độ Giáo
Kinh điển của Ấn độ giáo chủ yếu có ba bộ lớn như sau:
1.2.2.1. Bộ Veda (Vệ đà)
Veda bắt nguồn từ căn ngữ “Vid”, nghĩa là tri thức, kiến thức, hiểu biết. Như vậy Veda là bộ sách của sự hiểu biết, bộ sách về tri thức. Bộ này vốn không do một ai sáng tạo ra cả mà nó là bộ sách được sưu tập và biên soạn lại bằng tiếng Sanskrit vào khoảng từ năm 1000 đến 800 trước CN, được mọi người tôn xưng là “Thánh kinh Veda”. Theo các học giả hiện đại, Veda được sắp xếp theo bốn tập sau:
Bốn tập Samhitas (Sam có nghĩa là cùng với nhau, hita là sắp xếp hay sưu tập), cũng gọi là bốn bộ Veda
Rig Veda (thường được phiên âm là Lê câu vệ đà): gồm có 1028 bài thánh ca nhằm ca tụng, tán dương các vị thần linh. “Những bài thánh ca này ngoài ý nghĩa tín ngưỡng, nó còn là tác phẩm văn học có giá trị và thông qua đây chúng ta cũng hiểu được về nhân sinh quan và vũ trụ quan của người Ấn độ cổ đại” [27, 11]…Đây là quyển xưa nhất và quan trọng nhất trong bốn quyển Veda.
Sama Veda (Sa ma vệ đà): gồm có 1549 bài tán ca được trích ra từ Rig Veda kết hợp với một ít bài mới. Nó được coi là “tri thức về các giai điệu ca chầu, cầu nguyện thần linh khi hành lễ”.
Yajur Veda (Da du vệ đà): bộ này tập hợp những nghi thức khấn vái thần linh và cách bố trí các lễ vật trong khi cúng tế. Có nhiều đoạn trong này được rút ra từ Rig Veda. Tuy nhiên Yajur Veda lại có những đoạn văn xuôi ngắn và một số đoạn tán ca có chung một đề tài.
Atharva Veda (A thát bà vệ đà): là bộ ghi chép những câu thần chú, ma thuật…dùng để cầu phúc, cầu an, giải hạn, cầu cho mọi người tai họa được tiêu trừ… nhằm đem lại điều may mắn tốt lành cho bản thân, gia đình và xã hội. Mặt khác nó còn có thể gây thương tổn cho kẻ thù, nguyền rủa kẻ thù….
1.2.2.2. Upanishad (Áo nghĩa thư) có ba nghĩa chủ yếu
- Theo Max Muller, Upanishad có nghĩa là lớp học trong rừng, ở đây những người học trò ngồi xung quanh thầy và nghe thầy giảng.
- Theo Deussen, thì Upanishad có nghĩa là giáo lý bí mật, mà người thầy chỉ truyền trao cho một số ít học trò đã được thử thách và lựa chọn.
- Theo Sankara, nhà sớ giải nổi tiếng của tập Upanishad, thì Upanishad có nghĩa là đoạn trừ, tiêu hủy tức là triết lý này đoạn trừ sự si mê, ngu dốt và mở đường cho chánh kiến và giác ngộ, giải thoát.
Upanishad có tổng cộng 180 cuốn, được biên soạn vào cuối thời kỳ Veda. Cho nên nó còn có tên là Vedanta, nghĩa là sự kết thúc của Veda (sự kết thúc ở đây tức là sự hoàn chỉnh, hoàn thiện của tư tưởng Veda)
Nội dung chủ đạo của Upanishad là nhất nguyên và duy tâm
Nhất nguyên là vì các tác giả của Upanishad cho rằng: “Atman là Brahman, ẩn sâu trong con người” [5, 25]. Cũng có nghĩa bản thể của vũ trụ vạn hữu là cái bí mật của con người và biết được Atman tức cũng biết được Brahman. Mà muốn “hiểu biết về Atman không thể đạt được bởi lý luận. Atman sẽ trở nên dễ dàng lĩnh hội khi được giảng giải bằng cách khác (nhận thức trực giác, hướng nội hay thực nghiệm tâm linh). Bây giờ ngươi đã đạt được sự hiểu biết đó” [8, 100]. Như vậy muốn nhận ra được Atman, chúng ta phải quay về bên trong bằng con đường thực nghiệm tâm linh thì mới có thể thấy được bản chất của con người tức là Atman. Có khi người ta còn đồng nhất Atman với hơi thở.
Duy tâm là vì Atman là cái nằm ẩn sâu bên trong, là cái bản chất của con người, của mỗi chúng sanh, “Atman ẩn dấu sâu kín trong trái tim của vạn vật đang sinh tồn. Người thoát khỏi sự ràng buộc của dục vọng và thế giới vật dục là người thấy được vẻ uy nghiêm của Atman qua sự yên tĩnh của tri giác và trí tuệ, người đó sẽ đạt được tự do từ khổ đau” [8, 103].
Trong Upanishad, chúng ta cũng tìm thấy được những thuyết nghiệp (Karma), luân hồi và các phương pháp thực tập đưa đến giải thoát…….
1.2.2.3. Bhagavad Gita (Chí Tôn Ca )
Mahabharata là tác phẩm sử thi của Ấn độ nói riêng và của nhân loại nói chung, được xem là cuốn “Bách khoa toàn thư”. Ngạn ngữ Ấn cũng đã khẳng định: “Cái gì không được thấy trong Mahabharata thì cũng không thể thấy được ở Ấn độ”. Bộ sử thi này gồm có 200.000 câu thơ, dài gấp bảy lần tổng số câu của hai bộ sử thi cổ Hy Lạp Iliade và Odyssee cộng lại. Nó được biên soạn vào khoảng năm 500 trước công nguyên, đây là công trình sáng tác tập thể của nhiều thi nhân và trải qua nhiều thế hệ.
Dưới triều đại các vua của Gupta, Bhagavad Gita được bổ sung vào bộ sử thi này và trở thành cuốn VI của toàn tập Mahabharata. Theo một số học giả thì . Bhagavad Gita gồm có 700 câu thơ và được chia thành 18 đoạn.
Bhagavad Gita là bộ thánh điển quan trọng của Ấn độ giáo. Nó không những là tác phẩm văn học có giá trị mà còn cô đúc được hầu như tất cả những nguyên lý chính của đời sống tâm linh ấn độ cổ đại. Nội dung chủ yếu của thánh ca này là trình bày về :
- Con đường tri thức
“Nhờ ánh sáng của Jnana (tri thức), nhà ngươi sẽ nhận biết Brahma trong chính Atman của mình và ở trong Ta”. [13, 149]
- Con đường của hành động:
“Hành động của ai thoát khỏi dục vọng, được ngọn lửa của tri thức soi sáng, người đó xứng đáng là bậc hiền giả ở đời” [13, 149]
- Con đường của sự sùng tín:
“…..Những ai có lòng thành kính, vọng tưởng đến Ta…..những người đó mới thật là tông đồ mộ đạo, hiện hữu gần nhất bên Ta”. [13, 151]
1.3. PHẬT GIÁO
1.3.1. Quá trình hình thành
Trước khi Phật ra đời, xã hội Ấn độ rơi vào cuộc khủng hoảng trầm trọng về mọi mặt của đời sống xã hội. Thời kỳ này tầng lớp Bà La Môn được kính trọng, tôn sùng tuyệt đối; bởi họ là những người được coi là có tri thức, có khả năng giảng dạy đạo lý và cúng tế thần linh. Còn giai cấp Sát Đế lợi (vua chúa, tướng lĩnh….) thống trị quốc gia, thâu tóm gần như toàn bộ đất đai. Trong khi đó, các giai cấp dưới phải lao động vất vả, chịu mọi sự khổ cực để cung phụng cho các giai cấp trên. Chính những lý do này khiến cho đời sống xã hội ngày càng nảy sinh mâu thuẫn sâu sắc và dẫn đến sự phản kháng của đông đảo quần chúng nhân dân lao động, đòi quyền tự do, bình đẳng. Cũng chính vào thời điểm này ánh sáng từ bi trí tuệ của Phật giáo đã xuất hiện. “Phật giáo xuất hiện như là sự đáp ứng nhu cầu tinh thần phản kháng xã hội; một mặt nó phản ánh nỗi bất hạnh, đau khổ thực tế của nhân dân Ấn độ; mặt khác nó phản kháng chế độ đẳng cấp nghiệt ngã, chống lại sự áp bức, bất bình đẳng giữa con người. Nó công khai chống lại giáo lý truyền thống của kinh Veda và đạo Bà la môn, bác bỏ uy quyền thần thánh, xây dựng niềm tin vào chính con người”.
Vậy Ai là người khai sáng ra Phật giáo ?
Đó chính là Đức Phật Thích Ca Mâu Ni-Người đã khai sáng ra Phật giáo ra đời vào năm 563 trCN tại vườn Lumbini (Lâm Tỳ Ni), trong thành Kapilavastu (Ca tỳ la vệ) ở gần biên giới Nepan ngày nay. Ngài được đặt tên là Siddhattha (có nghĩa là người được toại nguyện), họ Gotama. Cha là quốc vương suddhodana (Tịnh Phạn)-trị vì vương quốc Kapilavastu; mẹ là hoàng hậu Màyà (Ma Gia). Sau khi Siddhattha chào đời được bảy ngày thì hoàng hậu đột ngột qua đời, việc nuôi dưỡng thái tử được giao lại cho em gái là Pajàpati Gotamì.
Thời niên thiếu, thái tử được chăm sóc và dạy dỗ một cách toàn diện cả hai lĩnh vực văn và võ. Không bao lâu Ngài đã tinh thông tất cả, đến nỗi các vị danh sư nổi tiếng phải cúi đầu thán phục. Ngoài sự thông minh, văn võ toàn tài, Thái tử còn được mọi người yêu mến vì sự hiếu thảo, tính khiêm cung và lòng thương người…..
Khi mười sáu tuổi, vâng lời vua cha, thái tử kết hôn với công chúa Yasodhara (Da du đà la)-một người em cô cậu cùng tuổi với Ngài, ít lâu sau công chúa đã hạ sinh một hoàng nam tuấn tú đặt tên Ràhula.
Mặc dù sống trong cung vàng điện ngọc, vợ đẹp con xinh nhưng lúc nào Thái tử cũng trầm ngâm, suy tư nhiều về kiếp sống nhân sinh “chính ta phải chịu cảnh sanh, già, bịnh, chết, phiền não và nhiễm ô”. hay Ngài suy niệm: “cuộc sống tại gia rất tù túng chật hẹp, là chỗ ẩn náu của bụi trần ô trược”.
Do không chấp nhận chế độ phân biệt chủng tộc, đẳng cấp của xã hội, vì sự khát khao tìm cầu chân lý, nên thái tử Siddhattha từ bỏ tất cả, quyết chí ra đi tìm đạo cứu đời. Trải qua bảy năm tầm sư học đạo, thái tử đã thọ học với các vị danh sư nổi tiếng như Alàràma Kàlamà và Uddaka Ràmaputta và cũng đã kinh qua đời sống tu hành khổ hạnh với năm anh em Kiều Trần Như; nhưng tất cả điều không giải quyết thoả đáng ý nguyện của Ngài. Sau đó Thái tử quyết định tĩnh toạ dưới gốc cây Tất bát la và thệ nguyện rằng: Nếu như không chứng được đạo Vô thượng bồ đề, thà thịt nát xương tan Ta cũng không rời khỏi chỗ này. Suốt bốn mươi chín ngày đêm suy tư thiền quán, cuối cùng khi sao mai vừa mọc Thái tử hoát nhiên đại ngộ, sạch hết phiền não, chứng được đạo quả Vô thượng Bồ đề hiệu Thích Ca Mâu Ni khi vừa tròn ba mươi lăm tuổi.
Sau khi viên thành đạo quả, Đức Phật liền đem giáo pháp của mình chứng ngộ được truyền bá cho tất cả mọi người. Trước tiên, Ngài dự định hóa độ cho hai vị danh sư Alàrà Kàlamà và Uddaka Ràmaputta. Sau khi thiền quán để xem các vị ấy cư ngụ ở đâu, Phật biết được hai vị ấy vừa mới qua đời. Kế đến Ngài nghĩ đến năm người bạn tu khổ hạnh, và biết họ đang vẫn còn tu tập tại Sarnath (Vườn Nai). Ở đây Ngài đã tuyên dương chánh pháp bằng bài giảng Tứ Diệu Đế. Sau khi nghe pháp năm anh em Kiều Trần Như đều xin quy y và trở thành đệ tử xuất gia đầu tiên của Phật, cũng từ đây Ba ngôi Tam Bảo được hình thành.
Sau đó, Ngài tiếp độ Yasa-con vị thương gia giàu có cùng 54 người bạn của ông trở thành đệ tử xuất gia. Không bao lâu những bậc vua chúa như vua Bimbisara, Pasenadi….những bậc trí thức, đạo đức như uruvela kassapa, nadì kassapa, Gaya kassapa, tôn giả Sariputta, Mogallana, Mahà Kassapa hay các vị tỷ phú thương gia như Anàthpindika, visàkhà….đều lần lượt trở thành đệ tử xuất sắc của ĐứcPhật.
Để hoàn thành hiếu đạo cũng như lợi ích cho hoàng gia, đức Phật trở về quê hương Capilavastu thuyết pháp hóa độ cho vua cha và tiếp độ vô số hoàng thân quốc thích như Ananda, Devadatta, Ràhula, Anuridha….Đặc biệt là Đức Phật õ cho phép di mẫu Pajapati xuất gia làm tỳ kheo ni và cho phép thành lập Ni đoàn.
Khi bước vào tuổi tám mươi, nhận thấy con đường giáo hóa đã viên mãn, đức Phật cùng chúng tỳ kheo du hành về thị trấn Kusinàra, ở đây Ngài đã hóa độ cho vị đệ tử cuối cùng là Subbadra, đồng thời cũng tuyên bố nhập niết bàn. Trước khi từ giã cõi đời, Phật cho phép các tỳ kheo nêu lên những thắc mắc về giáo pháp : “ Có nghi ngờ, thắc mắc, phân vân gì liên quan đến Phật, Pháp, Tăng, đến đạo, đến phương pháp, hãy hỏi đi, đừng để sau này hối tiếc”. Và Ngài cũng không quên khuyến khích các đệ tử hãy nổ lực tinh tấn thực hành giáo pháp “Hỡi các đệ tử, Như Lai khuyên các con, các pháp hữu vi đều là vô thường, hãy tận lực, liên tục chuyên cần”. Sau khi Phật nhập diệt, tôn giả Mahà Kassapa đã chủ trì lễ trà tỳ . Xá lợi Phật được chia làm tám phần, được vua quan và Phật tử các nước xây tháp phụng thờ.
Sau khi Phật nhập niết bàn, Phật giáo được các vị đại đệ tử của Ngài truyền bá đi khắp nơi trên xứ Ấn độ. Đặc biệt là vào thế kỷ thứ III trước công nguyên, dưới triều đại của vua Asoka, vị Hoàng đế này có công rất lớn trong sự nghiệp hoằng dương thánh giáo. Asoka gởi các đoàn truyền giáo đi khắp nơi, trong ấy có đại đức Mahinda-con của ông cùng với bốn vị tu sĩ khác được gởi sang Tích Lan truyền bá Phật giáo. Đến thế kỷ thứ II trước công nguyên, vua Kanishaka cũng nhiệt tình ủng hộ Phật giáo. Ông đã ra lệnh cho khắc tam tạng kinh điển lên lá đồng và cho người bảo quản một cách cẩn thận.
Trong quá trình phát triển, để phù hợp với từng thời đại, thích nghi với từng dân tộc, Phật giáo dần dần phân hóa thành hai bộ phái lớn đó là tiểu thừa và đại thừa hay còn gọi là Phật giáo nam truyền và Phật giáo bắc truyền. Mặc dù trên hình thức họ không đồng nhất với nhau về giáo lý cũng như về quan điểm…nhưng mục đích cứu cánh của hai truyền phái này là xiển dương thánh giáo nhằm đem lại lợi ích cho bản thân, tha nhân và xã hội.
Phật giáo nam truyền được truyền bá qua hầu hết các nước đông nam á như Tích lan, Miến điện, Thái lan, Lào, Campuchia, Việt nam….còn Phật giáo bắc truyền thì được truyền bá qua các nước như Trung Quốc, Nhật bản, Triều Tiên….trong đó có Việt nam
Ngày nay, do sự nhiệt tình hoằng pháp của các vị tổ sư nên Phật giáo cũng đã được truyền bá sang các nước như Mỹ, Pháp, Anh, Đức…..
1.3.2. Kinh Điển Cơ Bản Của Phật Giáo
Nói đến kinh điển Phật giáo thì phải đề cập đến Tam Tạng kinh điển
1.3.2.1.Kinh tạng
Sau khi Phật nhập niết bàn, các vị đại đệ tử của Ngài đã đúc kết lời Phật dạy thành năm bộ kinh chủ yếu như sau:
Kinh Trường Bộ: đây là bộ kinh tập hợp những bài kinh dài do Phật nói gồm có 34 bài kinh, tương đương với Kinh Trường A Hàm thuộc hệ thống Hán tạng.
Kinh Trung Bộ : đây là bộ kinh tập hợp những bài kinh trung bình gồm có 152 kinh, tương đương với Trung A Hàm thuộc Hán tạng.
Kinh Tăng Chi Bộ: bộ kinh này được sắp xếp theo pháp số, có mười một chương gồm 171 phẩm, có 2203 bài kinh, tương đương với Tăng Nhất A Hàm thuộc Hán tạng.
Kinh Tương Ưng Bộ: đây là bộ kinh tập hợp những bài kinh có cùng chung thể loại theo sự tương quan của từng vấn đề, gồm có 7762 bài kinh, tương đương với Kinh Tăng Nhất A Hàm thuộc Hán tạng.
Kinh Tiểu Bộ: đây là bộ kinh tập hợp những bài kinh ngắn, và không có tương đương trong Hán tạng. Nội dung của kinh này chia làm mười lăm loại sau: kinh Tiểu Tụng, kinh Pháp Cú, kinh Tự Thuyết, Như Thị Ngữ, Kinh Tập, Thiên Cung Sự, Ngạ Quỷ Sự, Trưởng Lão Kệ, Trưởng Lão Ni Kệ, Thí Dụ, Kinh Bổn Sanh, Vô Ngại Giải Đạo, Kinh Phật Chủng Tánh, Sở Hành Tàng, Nghĩa Thích.
1.3.2.2. Luật Tạng: là những giới điều mà Phật đã chế định, về sau được đúc kết thành các bộ như:
Tứ Phần Luật: gồm có 60 quyển
Ngũ Phần Luật: gồm có 30 quyển
Thập Tụng Luật: 60 quyển
Ma ha Tăng Kỳ Luật: gồm 40 quyển
Căn Bản Nhất Thiết Hữu Bộ Tỳ Nại Da: gồm 50 quyển
1.3.2.3. Luận Tạng: không phải do Phật trực tiếp nói ra mà là những giải thích về Kinh, Luật do các vị đệ tử sáng tác, gồm có các bộ sau:
Pháp Tập Luận: bộ này nhằm phân loại, giải thích tất cả pháp
Phân Biệt Luận: bộ này cũng nhằm phân loại, giai thích tất cả pháp trên, có người cho rằng đây là bộ tục biên của Pháp Tập Luận.
Giới luận: trình bày về mối quan hệ giữa Uẩn, Xứ và Giới.
Nhân Thi Thiết Luận: bộ này nhầm thuyết minh về sáu phần: Uẩn, Xứ, Giới, Căn, Đế, Nhân.
Song Luận: gồm có mười phẩm nhầm nói rõ các mối hỗ tương của các pháp và các mối quan hệ sinh khởi và biến diệt.
Phát Trí Luận: bộ này nhằm nói rõ mối liên hệ của 122 môn và 24 duyên.
Luận Sự: gồm có 313 phẩm, 217 luận nhằm đả phá những chấp trước sai lầm của các bộ phái.
Trên đây là những kinh điển căn bản của Phật Giáo, được nói ra từ kim khẩu của Đức Phật hay các vị đệ tử xuất sắc của Ngài. Ngoài ra, sau khi đại thừa Phật Giáo phát triển đã hình thành nên một số bộ Kinh, luận lớn như sau: Bộ Kinh Đại Bát Nhã, Kinh Hoa Nghiêm, Kinh Pháp Hoa, Kinh Duy Ma, Kinh Lăng Già, Kinh Đại Bát Niết Bàn….về luận thì có Bộ Đại Trí Độ Luận, Trung Quán Luận, Thập Nhị Môn Luận, Thành Duy Thức Luận, Du Già Sư Địa Luận….
Nói chung: Phật Giáo là một tôn giáo lớn của nhân loại, do Đức Phật Thích Ca Mâu Ni sáng lập. Dù ra đời cách đây hơn hai mươi thế kỷ, nhưng những lời dạy bất hủ của Phật vẫn còn thiết thực, đã và đang có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống văn hóa của châu Á nói riêng và cho toàn nhân loại nói chung.
Chương 2: NHỮNG ĐIỂM KHÁC BIỆT GIỮA TƯ TƯỞNG ẤN ĐỘ GIÁO VÀ PHẬT GIÁO
2.1. QUAN NIỆM VỀ GIÁ TRỊ CON NGƯỜI
2.1.1. Quan niệm về giá trị con người của Ấn độ giáo
Là con người thì ai cũng muốn có được một cuộc sống hạnh phúc trên hai phương diện vật chất và tinh thần. Trong xã hội Ấn độ cổ đại, nhất là vào thời kỳ Bà La Môn Giáo (giai đoạn thứ hai của quá trình hình thành Ấn độ Giáo), không phải người nào cũng có quyền được mong cầu như thế, chỉ có những tầng lớp thượng lưu, những người của đẳng cấp trên, cụ thể là Bà la môn và Sát đế lợi. Thời kỳ này đạo Bà La Môn phát triển rất mạnh, chiếm địa vị độc tôn trên vũ đài tư tưởng, chi phối gần như toàn bộ đời sống tinh thần của xã hội. Vì để củng cố thế lực cũng như địa vị ấy nên Bà La Môn đã phân chia xã hội ra làm bốn giai cấp lớn như sau:
Giai cấp Brahmin (Bà la Môn): đây là giai cấp cao nhất gồm toàn bộ giới tăng lữ, là những người có khả năng đảm trách tín ngưỡng, lo việc cúng tế, lễ nghi và có quyền thay mặt xã hội giao tiếp với các đấng thần linh.
Giai cấp Kshatriya (Sát đế lợi): là giai cấp của những người nắm quyền xã hội, thống trị lãnh thổ.
Giai cấp Vaisya (Vệ xá): gồm các thành phần thương gia, địa chủ…
Giai cấp Sudra (Thủ đà la): là giai cấp của những người tiện dân, cùng khổ, tôi tớ….
Ngoài các giai cấp trên còn có một giai cấp nữa gọi là Paria, là những người nô lệ, cùng khổ. Họ không được phép sống trong cộng đồng của bốn giai cấp trên, họ chỉ được sống ở những nơi bìa rừng hay ở xa làng xóm. Họ cũng không được phép nói chuyện hoặc quan hệ hôn nhân với các người thuộc giai cấp trên. Hằng ngày những người thuộc giai cấp này làm những việc khó nhọc như thiêu xác người, đổ phân, quét đường….
Nói về sự phân chia giai cấp trong Rig Veda cũng đã khẳng định : giai cấp Bà la môn được sinh ra từ miệng của Brahma, hai tay của Ngài tạo thành đẳng cấp sát đế lợi. Hai bắp đùi của ngài là đẳng cấp Phệ xá. Từ hai bàn chân của Ngài là giai cấp thủ đà la.
Qua đây cho chúng ta thấy được rằng, Ấn độ giáo quan niệm về giá trị con người hết sức bất công và không có sự bình đẳng. Đây là sự phân biệt chủng tộc, màu da, cũng như về nguồn gốc xuất thân. Những người thuộc giai cấp dưới phải tuân thủ nghiêm ngặt và phải tin tưởng tuyệt đối vào sự an bài này, cụ thể là của những giáo sĩ Bà là môn. Bà là môn sở dĩ được coi là giai cấp tối cao, bởi vì họ là người độc quyền về tri thức. Họ không nhữngỉ giải thích, chú giải các bộ kinh về Veda, dạy dỗ mọi người mà còn có quyền thay mặt mọi người tiếp xúc với các đấng thần linh. Thời bấy giờ không phải ai cũng được học, đọc, hay nghe kinh thánh. Nếu người sudra mà nghe thánh kinh thì tai sẽ bị điếc, bị đổ chì vào. Nếu họ tụng thánh kinh thì sẽ bị cắt lưỡi. Còn người nào học thuộc lòng thánh kinh thì thân thể sẽ bị chặt làm hai. Đạo Bà la môn lúc ấy chỉ là đạo riêng của những người Bà la môn mà thôi, họ không cho bất cứ tầng lớp nào len lỏi vào.
Không những thế, trong quan hệ giao tiếp, hôn nhân cũng được quy định rất chặt chẽ. Những người thuộc giai cấp thấp, nhất là giai cấp Puria không được quyền giao tiếp, sinh hoạt với những người thuộc giai cấp trên. Họ còn cho rằng, nếu người nào thuộc giai cấp Bà la môn không may bị người Paria giẫm lên cái bóng của mình thì người ấy phải làm lễ tẩy trần bằng cách nhịn ăn, và tắm nước thánh cả ngày hôm đó hay những người thuộc giai cấp thấp muốn đi qua một khu phố hay một khu chợ thì phải báo hiệu cho mọi người biết để tránh xa họ…. Về hôn nhân họ cấm không cho các giai cấp khác nhau kết hôn với nhau. Thậm chí các vương tôn công tử thuộc giai cấp Sát đế lợi không được phép kết hôn với con gái của Bà la môn. Còn nếu người Bà la môn cưới một người vợ thuộc giai cấp sudra thì con cái của họ sinh ra bị giáng xuống đẳng cấp hèn hạ nhất.
Sự phân chia giai cấp này hết sức nghiệt ngã và quá bất công. Nếu ai không may sinh ra trong giai cấp hèn hạ, họ phải chấp nhận số phận đó cho đến khi nhắm mắt lìa đời mà không cóù cơ hội vươn lên địa vị cao hơn. Sự an bài các giai cấp trên đã làm ảnh hưởng đến quyền lợi của các giai cấp dưới nên gây ra một cuộc phản kháng hết sức dữ dội nhằm đòi lại quyền tự do bình đẳng từ tay của những người thuộc giai cấp trên đã chèn ép, áp đặt cho họ.
Như vậy, theo Ấn giáo, cụ thể là Bà la môn giáo thì thân phận con người không được tôn trọng như nhau, những người thuộc giai cấp trên thì được tôn trọng tuyệt đối, còn những người thuộc giai cấp dưới được coi là những kẻ nô lệ. Đời sống vật chất của những người thuộc giai cấp thấp còn chưa đầy đủ, thì làm gì có cơ hội thăng hoa trong đời sống tinh thần. Đây là quan điểm của Ấn giáo về giá trị con người.
2.1.2. Quan điểm của Phật giáo về giá trị con người
Vì nhận ra được cuộc đời là chuổi dài của khổ đau, luôn bị sanh, lão, bệnh, tử chi phối nên thái tử Tất Đạt Đa từ bỏ tất cả cung vàng điện ngọc, vợ đẹp con thơ, quyết chí ra đi tìm đạo cứu đời. Sau khi chứng được quả vị Vô thượng chánh đẳng chánh giác, Đức Phật đã lên đường giáo hóa chúng sinh, mang đến cho xã hội Ấn độ một luồng gió mới, một tư tưởng cách mạng mới. Như chúng ta biết, thời bấy giờ đạo Bà la môn chiếm địa vị độc tôn và họ đã thiết lập ra các giai cấp nhằm tước đoạt mọi quyền sống khiến cho con người rơi vào cảnh lầm than, khổ sở….. Vì lòng từ bi vô hạn cũng như với tuệ giác siêu việt Đức Phật từng bước thiết lập lại xã hội và đưa ra nhiều quan điểm đặc sắc để “chống lại” những tư tưởng tiêu cực và khắt khe của xã hội lúc bấy giờ. Về thân phận con người cũng như nói về các giai cấp, Đức Phật khẳng định: “Không có đẳng cấp trong dòng máu cùng đỏ, không có đẳng cấp trong giọt nước mắt cùng mặn. Một người được coi là quý tộc hay hạ tiện là ở nơi hành vi của họ mà không phải ở đẳng cấp sinh ra”. Như vậy, Phật đã xác định sự bình đẳng giữa người với người, không có ai là quý tộc và cũng không có ai là hạ tiện. Quý tộc hay hạ tiện không phải do nơi giai cấp quy định. Đây là một tư tưởng hết sức mới mẻ, độc đáo và nó được thể hiện rất rõ trong suốt quá trình hoằng dương thánh giáo của Ngài. Đức Phật mở rộng cánh cửa giải thoát nhằm tiếp nhận tất cả mọi người bất kể sang giàu, cao thượng hay hèn hạ…. Do vậy, trong tăng đoàn của Ngài có đủ mọi tầng lớp của xã hội, như Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên thuộc tầng lớp Bà la môn, A Nan thuộc tầng lớp Sát đế lợi, Ưu Ba Li thuộc tầng lớp Thủ đà la…..Đức Phật nói rõ rằng: “Này các tỳ kheo, các con sông lớn đổ về đại dương thì mất tên trước kia của chúng và chỉ được gọi là đại dương. Cũng vậy, bốn giai cấp Bà la môn, Sát đế lợi, Vệ xá và Thủ đà la xuất gia, từ bỏ gia đình vào Pháp luật này được Như Lai tuyên bố, đều mất danh tánh và dòng dõi trước kia và chỉ còn được xem là Sa môn Thích tử”.
Hơn thế nữa, Đức Phật luôn đề cao giá trị của con người, bất luận là nam hay nữ. Ngài cho rằng ai cũng có thể tu tập và đạt được quả vị giác ngộ giải thoát. Nghĩa là một người cho dù xuất thân từ giai cấp Bà la môn cao quý hay ở những giai cấp thấp, nếu thực hành theo giáo pháp của Ngài thì đều được thưởng thức hương vị thánh đạo, “Này các tỳ kheo, đại dương chỉ có một vị, đó là vị mặn. Cũng vậy, Pháp và Luật của Ta cũng chỉ có một vị, đó là vị giải thoát”.
Điểm đặc biệt nhất là Đức Phật tiếp nhận nữ giới vào trong giáo đoàn. Vì Ngài thấy rõ “người nữ có khả năng thành tựu các đạo và các quả”. Có thể nói đây là một cuộc cách mạng về giới tính đầy tính nhân văn của Phật. Bởi người nữ xưa kia không được trọng đãi, tôn trọng. Đạo Bà la môn xem phụ nữ như là vật sở hữu của nam giới, sinh ra để phục tùng cho nam giới mà thôi và “cuối thời Veda và thời kỳ sử thi, phụ nữ phải chết theo chồng”[30,176]. Còn đạo Jain thì cho rằng “Phụ nữ là ngọn đèn chiếu sáng con đường dẫn đến cánh cửa địa ngục”. Trước khi Phật ra đời, người phụ nữ không được hưởng quyền tự do, bình đẳng nên họ không có cơ hội thăng hoa về đời sống tâm linh của mình. Sau khi Ni đoàn được thành lập, hầu hết các vương phi, công chúa cho đến hàng thứ dân, gái giang hồ….. bất luận ở đẳng cấp nào cũng hưởng được “mùi vị” tự do, bình đẳng ấy. Cũng có rất nhiều cô gái, đáng lẽ mãi mãi bị lãng quên trong bóng tối khổ đau đã tỏ ra xuất sắc và đã thành tựu được giác ngộ giải thoát sau khi nương tựa vào giáo pháp của Như Lai.
Nói chung: Phật giáo nhìn nhận giá trị thật của con người, không phải do sanh ra hay nguồn gốc xuất thân mà quyết định sự cao thượng. Sự cao thượng hay hèn hạ đều phụ thuộc vào hành động, nhân cách của con người. Và Đức Phật cũng khẳng định : Tất cả chúng sinh đều có tánh Phật, có khả năng thành Phật. Đây là điểm khác biệt chủ yếu về giá trị con người giữa Phật giáo và Ấn giáo
2.2. QUAN ĐIỂM VỀ LINH HỒN
Ngoại trừ Phật giáo, hầu hết các tôn giáo ở Ấn độ đều chấp nhận có một linh hồn bất biến tồn tại trong mỗi con người. Ấn độ giáo cho rằng linh hồn bất biến ấy chính là Atman hay Purusa, Jiva, chính là cái Ta, cái Ngã hay là cái thực thể tuyệt đối trường cửu trong con người. Trong kinh Upanishad đề cập nhiều ví dụ nói về linh hồn :
Chàndoya Upanishad nói:
“Này con, nếu có ai chích vào rễ của một cây lớn thì cây sẽ chảy nhựa nhưng cây vẫn sống, thậm chí đốn ngang cây, thì cây vẫn sống, chặt hết đọt cây thì cây vẫn sống trong nó và cây tiếp tục dần dần hút nước và thức ăn từ lòng đất để tiếp tục đâm lá ra cành.
Nhưng nếu linh hồn sống rời bỏ một cành là cành ấy khô héo, rời bỏ hai cành là hai cành khô héo, và nếu rời bỏ cả cây thì cây ấy chết khô.
Giống hệt như vậy đó con trài à ! thân xác này chết, rời bỏ linh hồn sống; nhưng linh hồn thì không chết. Cái bản chất tinh anh nhất trong tất cả mọi vật tồn tại chính là linh hồn. Điều đó thật sự là chân lý”[8, 738]
Như vậy, bản chất linh hồn là vĩnh cửu, vô tận; dù thân xác có bị tiêu hủy nhưng linh hồn vẫn tồn tại từ kiếp này đến kiếp khác “Sau cái chết của thân xác, linh hồn đi về một trạng thái siêu việt khác mà phẩm chất của trạng thái đó được xác định tùy vào hành nghiệp (karma) quá khứ, trong đó bản chất nguyên thủy của tự ngã có thể được khám phá. Nhưng từ tình trạng siêu việt này, Atman có thể quay về thế giới vật chất nếu chưa thành tựu được thực tại tối hậu” [14, 48]
Trong The Bhagavad Gita có đề cập đến sự bất tử , vĩnh cửu của linh hồn:
“Này Ajuna, linh hồn đã hiện thân thì vĩnh cữu, vô hủy diệt, bất khả tri và vô tận chứ không tạm bợ như thân xác. Vậy thì hãy chiến đấu. Kẻ nào có thể cho rằng linh hồn có thể giết được và kẻ nào có thể cho rằng linh hồn có thể bị giết, cả hai kẻ ấy đều ngu xuẩn. Linh hồn không thể giết được ai và cũng không hề bị giết. Linh hồn không sinh thì không tử. Linh hồn đã hiện hữu sẽ không ngừng hiện hữu. Linh hồn vô sinh, trường tồn vĩnh cửu, dù khi thân xác đã chết, linh hồn vẫn còn tồn tại……binh đao không thể đâm chém được linh hồn, lửa không thể làm khô héo được linh hồn. Linh hồn đã hiện thân không thể bị đâm chém, không bị thiêu hủy, không tan như nước, không khô héo. Linh hồn thường còn, linh hồn truyền sức sống vào vật, linh hồn bất biến, bền bỉ, là bất diệt”. [11,17]
Như vậy, Ấn độ giáo chủ trương có một linh hồn (Atman) bất biến, tồn tại sau khi chết “Atman không sinh ra và cũng không mất đi……khi con người chết nó không chết” [16, 36]. Chính linh hồn này tái sinh vào các cảnh giới khác nhau và chịu sự chi phối của luân hồi.
Phật giáo không chấp nhận quan điểm của Ấn độ giáo về Atman (linh hồn). Theo Phật “ý tưởng về linh hồn, về Ngã là một sự tin tưởng sai lạc, không có thực trong thực tại và nếu tin tưởng như thế sẽ phát sinh những tư tưởng bất thiện về “tôi”, và “của tôi”, dục vọng ích kỷ, kiêu căng ngã mạn, gây ra xung đột giữa cá nhân với cá nhân và giữa dân tộc này với dân tộc khác…” [21, 79]. Do đó, Phật đã tuyên thuyết rằng: tất cả vũ trụ vạn hữu trên thế gian này dù là vật chất hay phi vật chất đều vô ngã do duyên sinh, theo nguyên tắc sau:
“Do cái này có mặt nên cái kia có mặt
Do cái này không có mặt nên cái kia không có mặt
Do cái này sinh nên cái kia sinh
Do cái này diệt nên cái kia diệt”.
Cho dù linh hồn-được hiểu đơn giản là phần phi vật chất trong con người cũng phải do duyên sinh. Đức Phật phân tích một người là tập hợp của năm yếu tố: Sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Trong đó sắc (thuộc vật chất), bốn cái còn lại(thuộc phi vật chất). Nói cách khác, ngũ uẩn là một hợp thể duyên sinh vô ngã, không có cái nào tồn tại vĩnh cữu. Muốn tồn tại được phải nhờ nhân duyên, chẳng hạn như khi thức tồn tại phải nhờ “sắc làm điều kiện, làm đối tượng, sắc làm nơi nương tựa….Thức phát triển, hưng thịnh nhờ sắc. Thức tồn tại nhờ….thọ….tưởng….hành…. Nếu có ai nói tôi sẽ chỉ ra sự ra đi, sự đến, sự sinh, sự diệt của thức biệt lập với sắc, thọ, tưởng, hành thì người ấy đã nói lên một điều không thực” [2].
Trong hệ thống kinh tạng Nikàya, khi nói đến Ngũ Uẩn, Phật thường hỏi các thầy Tỳ kheo : “Sắc này là thường hay vô thường ?
Bạch Thế Tôn ! Vô thường
Vô thường thì đưa đến khổ hay vui ?
Bạch Thế Tôn ! Khổ
Cái mà vô thường, khổ thì có hợp lý khi cho rằng cái này là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi ?
Bạch Thế Tôn ! Không hợp lý
Tương tự đối với thọ, tưởng, hành, thức…… [2]
Hay có một cách phân tích khác nữa, chia sắc uẩn ra làm bốn yếu tố: địa, thủy, hỏa, phong; tập hợp các yếu tố phi vật chất lại thành một nhóm, gọi là thức. Như bài thơ của thiền sư Đạo Huệ thời Lý:
“Địa, thủy, hỏa, phong, thức
Nguyên lai nhất thiết không
Như vân hoàn tụ tán
Phật nhật chiếu vô cùng….”
“Đất, nước, lửa, gió, thức
Nguyên lai vốn rỗng không
Cũng như mây lúc tụ, lúc tán
Mặt trời Phật chiếu khắp nơi không hạn chế…”
Qua đây cho chúng thấy được linh hồn mà Ấn giáo cho là trường cữu, khi nhìn dưới lăng kính Duyên sinh và qua phân tích về Ngũ Uẩn, Ngũ Đại của Phật thì không còn thấy gì là Ngã, là Tôi…chỉ là một thực thể vô ngã do nhân duyên nhóm lại mà thành, không có bất cứ cái gì tồn tại độc lập và vĩnh cửu.
Mặt khác, Đức Phật bác bỏ về linh hồn nhằm không muốn cho các đệ tử của Ngài mất thời gian tư biện về những vấn đề siêu hình. Theo Ngài những vấn đề này không liên quan gì đến mục đích phạm hạnh, không có ích trong việc diệt trừ khổ đau, thành tựu chánh trí và chứng ngộ niết bàn. Trong kinh Alagaddùpama Sutta thuộc Majjhimà Nikàya Phật dạy: “......Này các Tỳ kheo, ta không thấy một linh hồn nào mà nếu chấp nhận sẽ không còn phát khởi buồn sầu, bi thương, thống khổ, phiền muộn, đớn đau” [21, 88]